Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực đê điều và phòng, chống thiên tai.
Chính phủ ban hành Nghị định số 53/2026/NĐ-CP ngày 5/2/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực đê điều và phòng, chống thiên tai.
Sửa đổi một số quy định trong lĩnh vực đê điều
và phòng, chống thiên tai
Nghị định số 53/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung
một số điều của 7 Nghị định sau: Nghị định 66/2021/NĐ-CP ngày 6/7/2021; Nghị
định 78/2021/NĐ-CP ngày 01/8/2021; Nghị định 9/2025/NĐ-CP ngày 10/01/2025; Nghị
định 113/2007/NĐ-CP ngày 28/6/200; Nghị định 04/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011;
Nghị định 53/2019/NĐ-CP ngày 17/6/2019; Nghị định 50/2020/NĐ-CP ngày 20/4/2020
tập trung vào 05 nhóm nội dung: (1) Nhóm nội dung về xử lý các vấn đề liên quan
đến Nghị quyết số190/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội quy định về xử lý
một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; (2) Nhóm nội dung
về phân định thẩm quyền liên quan đến chính quyền 02 cấp; (3) Nhóm nội dung về
phân cấp, phân quyền theo quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức
chính quyền địa phương; (4) Nhóm nội dung cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành
chính; (5) Nhóm nội dung về những vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn.
Quy định mới về phân
công, phân cấp trách nhiệm và phối hợp trong ứng phó rủi ro thiên tai
Trong đó, Nghị định số 53/2026/NĐ-CP sửa đổi,
bổ sung Điều 7, 8, 9 Nghị định 66/2021/NĐ-CP về
phân công, phân cấp trách nhiệm và phối hợp trong ứng phó rủi ro thiên tai cấp
độ 1, 2, 3 theo hướng điều chỉnh cho phù hợp với chính quyền 02 cấp và chuyển
thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp xã thực hiện.
Theo quy định mới, trong ứng phó rủi ro
thiên tai cấp độ 1, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm
trực tiếp chỉ huy, huy động nguồn lực tại chỗ để ứng phó kịp thời ngay khi
thiên tai xảy ra; hỗ trợ công tác ứng phó khi có đề nghị của các địa phương lân
cận; có trách nhiệm trực tiếp chỉ huy và huy động nguồn lực theo thẩm quyền,
đảm bảo nguyên tắc minh bạch, đúng quy định của pháp luật để ứng phó thiên tai
khi nhận được đề nghị trợ giúp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã khác và chỉ đạo
của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; báo cáo và chịu trách nhiệm thực hiện
chỉ đạo, chỉ huy của các cơ quan phòng, chống thiên tai cấp trên; đồng thời
được quyền huy động các nguồn lực sau để ứng phó thiên tai:
- Lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai
cấp xã;
- Lực lượng công an, dân quân tự vệ, dân phòng,
lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, thanh niên, các tổ chức, cá
nhân trên địa bàn và các tổ chức, cá nhân tình nguyện theo quy định của pháp
luật; đề nghị người có thẩm quyền huy động lực lượng quân đội trên địa bàn để
ứng phó thiên tai theo quy định của pháp luật;
- Vật tư dự trữ do nhân dân chuẩn bị; vật tư,
trang thiết bị, phương tiện của cấp xã và các tổ chức, cá nhân hoạt động trên
địa bàn.
Trong ứng phó rủi ro thiên tai cấp độ 2, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực
hiện nhiệm vụ quy định trong ứng phó rủi ro thiên tai cấp độ 1; tuân thủ sự chỉ
huy của cơ quan cấp trên; hướng dẫn và tổ chức sơ tán người đến nơi an toàn;
quyết định tổ chức cưỡng chế sơ tán trường hợp tổ chức, cá nhân không tự giác
chấp hành chỉ đạo, chỉ huy, hướng dẫn sơ tán phòng, tránh thiên tai vì mục đích
an toàn cho người.
Trong ứng phó rủi ro thiên tai cấp độ 3, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện
nhiệm vụ theo quy định trong ứng phó rủi ro thiên tai cấp độ 2 ở trên phù hợp
với tình huống cụ thể tại địa phương; tuân thủ sự chỉ đạo, chỉ huy của cơ quan
cấp trên.
Quy định mới về tình
huống khẩn cấp về thiên tai
Nghị định số 53/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ
sung khoản 1 Điều 12 Nghị định số 66/2021/NĐ-CP quy định về tình huống khẩn cấp
về thiên tai như sau: Tình huống khẩn cấp về thiên tai là các tình huống thiên
tai đã hoặc đang xảy ra đã gây ảnh hưởng hoặc có nguy cơ đe dọa trực tiếp đến
an toàn tính mạng, sức khỏe, nhà ở của nhiều người dân và các công trình đê
điều, hồ đập, công trình phòng, chống thiên tai, công trình hạ tầng quan trọng
đang sử dụng như sân bay, đường sắt, đường cao tốc, quốc lộ, tỉnh lộ, đường độc
đạo liên xã, liên thôn, bến cảng quốc gia, hệ thống lưới cao thế từ 66KV trở
lên, di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt, di sản thế giới, trường học,
bệnh viện, trụ sở các cơ quan, các khu kinh tế, khu công nghiệp; mất đất, mất
rừng ngập mặn ven biển, rừng phòng hộ đầu nguồn, cần tổ chức triển khai ngay
các biện pháp ứng phó khẩn cấp để kịp thời ngăn chặn hậu quả và khắc phục nhanh
hậu quả, được công bố bằng quyết định của người có thẩm quyền.
Đồng thời, Nghị định số 53/2026/NĐ-CP cũng sửa
đổi, bổ sung khoản 2 Điều 13 Nghị định số 66/2021/NĐ-CP về dự án khẩn cấp
phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai theo hướng sửa đổi, cập nhật nội dung
quy định về hình thức chỉ định thầu để thực hiện dự án khẩn cấp phòng, chống,
khắc phục hậu quả thiên tai để phù hợp với quy định về đầu tư xây dựng công
trình khẩn cấp đã được quy định cụ thể trong Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng và
các Nghị định hướng dẫn.
Theo quy định mới, dự án khẩn cấp phòng,
chống, khắc phục hậu quả thiên tai được quyết định đầu tư, tổ chức thực hiện
theo quy định tại khoản 15 Điều 4, khoản 6 Điều 19, Điều 45 Luật Đầu tư công,
Điều 130 Luật Xây dựng được sửa đổi, bổ sung tại khoản 48 Điều 1 Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xây dựng; được áp dụng hình thức chỉ định thầu để
lựa chọn nhà thầu theo quy định tại Điều 23 Luật Đấu thầu được sửa đổi, bổ sung
tại khoản 14 Điều 1 của Luật số 90/2025/QH15 và điểm b, điểm k khoản 1 Điều 78
Nghị định số 214/2025/NĐ-CP ngày 04 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định chi
tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu và
được điều chỉnh tương ứng khi pháp luật về đầu tư công, xây dựng và đấu thầu
điều chỉnh.
Phân cấp, phân quyền
mới về hỗ trợ khẩn cấp di dời dân cư
Nghị định số 53/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung
khoản 2 và khoản 4 của Điều 19 Nghị định số 66/2021/NĐ-CP về hỗ trợ khẩn cấp di
dời dân cư theo hướng thay thế cụm từ "Ban chỉ huy phòng, chống thiên tai
và tìm kiếm cứu nạn" bằng "Ban chỉ huy phòng thủ dân sự"; gộp
thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã cho phù hợp với
chính quyền địa phương 2 cấp.
Như vậy, trong hỗ trợ khẩn cấp di dời dân cư,
Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp xã huy động lực lượng xung kích phòng, chống
thiên tai và các lực lượng tại chỗ rà soát, xác định số hộ cần di dời khẩn cấp.
Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp xã tổng hợp
về số hộ cần di dời khẩn cấp và nhu cầu hỗ trợ di dời, báo cáo Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp xã. Căn cứ quy định của Luật Đất đai, Luật Trưng mua, trưng dụng
tài sản và các quy định pháp luật hiện hành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
giao đất, bố trí chỗ ở cho các hộ dân cần di dời; quyết định huy động kinh phí,
lực lượng, trang thiết bị, vật tư và các tổ chức, cá nhân liên quan theo thẩm
quyền để triển khai thực hiện. Trường hợp vượt quá khả năng, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp xã báo cáo, đề xuất Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh.
Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh tổng hợp
nhu cầu cấp xã, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Căn cứ quy định của
Luật Đất đai, Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản và các quy định pháp luật hiện
hành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bố trí quỹ đất để làm nơi ở cho các hộ
dân cần di dời; quyết định huy động kinh phí, lực lượng, trang thiết bị, vật tư
và các tổ chức, cá nhân liên quan theo thẩm quyền để hỗ trợ di dời. Trường hợp
vượt quá khả năng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Thủ tướng Chính
phủ để kịp thời xử lý.
Thay đổi về chế độ
tiền lương, tiền thưởng
Nghị định số 53/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung
Điều 33, 35 Nghị định số 66/2021/NĐ-CP theo hướng điều chỉnh tiền lương và mức
theo định mức quy định tại Nghị định 16/2025/NĐ-CP ngày 04/02/2025 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định số 72/2020/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2020 của
Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Dân quân tự vệ về tổ chức xây
dựng lực lượng và chế độ, chính sách đối với Dân quân tự vệ. Cụ thể:
Về chế độ tiền lương, tiền công đối với người
tham gia lực lượng xung kích được huy động tập huấn, huấn luyện, diễn tập và
làm nhiệm vụ phòng chống thiên tai, Nghị định số 53/2026/NĐ-CP quy định mới như
sau: Người không hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong thời gian được huy
động làm nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, tham gia tập huấn, huấn luyện, diễn
tập được hưởng trợ cấp ngày công lao động như sau:
a) Mức trợ cấp ngày công lao động do Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định, nhưng không thấp
hơn mức quy định tại điểm a khoản 1 Điều 11 Nghị định số 72/2020/NĐ-CР ngày 30
tháng 6 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Dân quân
tự vệ về tổ chức xây dựng lực lượng và chế độ, chính sách đối với Dân quân tự
vệ đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 16/2025/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm
2025 của Chính phủ.
Nếu huấn luyện, diễn tập và làm nhiệm vụ
phòng, chống thiên tai vào ban đêm (từ 22 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ ngày
hôm sau) được tính tăng thêm không thấp hơn 50% mức trợ cấp ngày công lao động
hiện hưởng.
b) Khi tập huấn, huấn luyện, diễn tập, làm
nhiệm vụ phòng, chống thiên tai cách xa nơi cư trú, không có điều kiện đi, về
hàng ngày thì được bố trí nơi ăn, nghỉ, hỗ trợ phương tiện, chi phí đi lại hoặc
thanh toán tiền tàu xe một lần đi và về như cán bộ, công chức cấp xã; được hỗ
trợ tiền ăn theo mức do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định, nhưng không
thấp hơn mức tiền ăn quy định tại điểm b khoản 1 Điều 11 Nghị định số
72/2020/NĐ-CР ngày 30 tháng 6 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số
điều của Luật Dân quân tự vệ về tổ chức xây dựng lực lượng và chế độ, chính
sách đối với Dân quân tự vệ đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số
16/2025/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2025 của Chính phủ.
c) Cấp nào huy động thì cấp đó bảo đảm chi
trả.
Về mức hưởng cho người tham gia lực lượng xung
kích phòng, chống thiên tai cấp xã không tham gia bảo hiểm xã hội nếu bị tai
nạn, bị chết, Nghị định số 53/2026/NĐ-CP sửa đổi như sau:
Trường hợp bị tai nạn: Trong thời gian điều
trị tai nạn được hưởng như quy định tại khoản 2 Điều này kể cả trường hợp vết
thương tái phát cho đến khi xuất viện. Trường hợp tai nạn làm suy giảm khả năng
lao động từ 5% trở lên thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 15 Nghị
định số 72/2020/NĐ-CР ngày 30 tháng 6 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết
một số điều của Luật Dân quân tự vệ về tổ chức xây dựng lực lượng và chế độ,
chính sách đối với Dân quân tự vệ đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định
số 16/2025/NĐ-CP ngày
04 tháng 02 năm 2025 của Chính phủ.
Trường hợp bị tai nạn dẫn đến chết: Thực hiện
theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 15 Nghị định số 72/2020/NĐ-CР ngày 30
tháng 6 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Dân quân
tự vệ về tổ chức xây dựng lực lượng và chế độ, chính sách đối với Dân quân tự
vệ đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 16/2025/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm
2025 của Chính phủ.
Trường hợp bị ốm đau dẫn đến chết: Thực hiện
theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 15 Nghị định số 72/2020/NĐ-CР ngày 30
tháng 6 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Dân quân
tự vệ về tổ chức xây dựng lực lượng và chế độ, chính sách đối với Dân quân tự
vệ đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 16/2025/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm
2025 của Chính phủ.
Tải về
(Nguồn: baochinhphu.vn)